VietTechiesHIỂU CÔNG NGHỆ. MỞ GÓC NHÌN.
☰ Chuyên mục

Thử nghiệm đa thành phần và thiết bị Nga: Quy trình lắp ráp quỹ đạo của Kennedy thập niên 1990

08/10/2026 · VietTechies · Biên tập

Một vành ghép nối cơ khí cách điệu bằng kim loại với các chi tiết màu đồng ấm và xanh cô-ban lạnh kết nối với nhau trên nền xanh lam đậm.
Ảnh minh họa do AI tạo.

Tháng 4 năm 1991, Trung tâm Vũ trụ Kennedy khởi công xây dựng Cơ sở Chế biến Trạm Vũ trụ (SSPF) tại Florida, thiết lập một trung tâm kiểm thử trên mặt đất nhằm mô phỏng quá trình lắp ráp ngoài không gian trước khi thiết bị phần cứng được đưa lên bệ phóng. Được thiết kế cho việc kiểm thử tích hợp đa thành phần, cơ sở này đã giúp tiết kiệm hàng tỷ đô la nhờ phát hiện các sai lệch cơ khí và điện tử ngay trên Trái Đất trước khi linh kiện lên đến quỹ đạo.

Kiểm thử trên mặt đất và các vành ghép nối

Các thiết bị phần cứng quốc tế bắt đầu tham gia vào quy trình xử lý tại Florida từ mùa thu năm 1994, khi Mô-đun Ghép nối Mir-2 do Nga chế tạo cập bến SSPF. Cột mốc này nối tiếp thỏa thuận Shuttle-Mir được Tổng thống Mỹ George H.W. Bush và Tổng thống Nga Boris Yeltsin ký kết vào ngày 17 tháng 6 năm 1992. Thỏa thuận này đã dẫn đến chín lần tàu thoi ghép nối với trạm vũ trụ Mir trong chương trình kéo dài ba năm, giúp các phi hành gia NASA có trải nghiệm sớm về các sứ mệnh dài ngày trên quỹ đạo và chuẩn hóa các quy trình thử nghiệm phối hợp trên mặt đất trước khi bắt đầu lắp ráp trạm.

Duy trì hoạt động đội tàu thoi

Trong suốt thập niên 1990, Trung tâm Vũ trụ Kennedy đã duy trì tần suất phóng cao, gấp đôi số lượng chuyến bay tàu thoi của thập niên 1980. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1990, tàu thoi Discovery đã phóng Kính thiên văn Vũ trụ Hubble, đài quan sát lớn đầu tiên trong chương trình Great Observatories được xử lý tại Kennedy. Jay Honeycutt đảm nhiệm vị trí Giám đốc Trung tâm Kennedy từ tháng 1 năm 1995 đến tháng 3 năm 1997, chỉ đạo đội ngũ nhân lực hoạt động với nhịp độ cao để chuẩn bị cho các tải trọng nặng, bao gồm Đài quan sát Tia Gamma Compton nặng 17 tấn phóng ngày 5 tháng 4 năm 1991, đồng thời kết hợp các thiết bị phần cứng mới của trạm vũ trụ vào lịch trình làm việc.

Ghép nối các mô-đun lõi

Đến tháng 6 năm 1997, công tác kiểm thử và xử lý bắt đầu đối với Unity, mô-đun trạm vũ trụ đầu tiên do Mỹ chế tạo được đưa tới SSPF. Roy Bridges giữ chức Giám đốc Trung tâm Kennedy từ tháng 3 năm 1997 đến tháng 8 năm 2003, dẫn dắt trung tâm trải qua giai đoạn lắp ráp cốt lõi của trạm vũ trụ. Việc xây dựng ngoài vũ trụ chính thức bắt đầu vào ngày 20 tháng 11 năm 1998, khi tên lửa Proton của Nga phóng mô-đun điều khiển Zarya nhằm cung cấp năng lượng pin và lưu trữ nhiên liệu. Ngày 4 tháng 12 năm 1998, tàu thoi Endeavour rời bệ phóng trong sứ mệnh STS-88, tạo điều kiện cho phi hành đoàn thu bắt Zarya và kết nối thành công mô-đun này với Unity ngoài không gian.

Các chuyến thám hiểm Sao Hỏa và Sao Thổ

Bên cạnh các chiến dịch tàu thoi, lực lượng kỹ thuật mặt đất còn chuẩn bị cho các tàu thăm dò robot hành tinh được phóng bằng tên lửa đẩy dùng một lần từ khu vực Mũi Canaveral lân cận. Tàu Mars Pathfinder cất cánh ngày 2 tháng 12 năm 1996 và đáp xuống bề mặt Sao Hỏa vào ngày 4 tháng 7 năm 1997, mang theo xe tự hành siêu nhỏ Sojourner. Thiết bị này đã hoạt động bền bỉ gấp 12 lần so với thời gian thiết kế bảy ngày ban đầu. Đến tháng 10 năm 1998, NASA đã hợp nhất các hoạt động này bằng cách thành lập Chương trình Dịch vụ Phóng (Launch Services Program) chính thức tại Kennedy.

Bằng cách xác minh đồng bộ các mô-đun bay đa quốc gia ngay trên mặt đất trước khi ghép nối ngoài vũ trụ, các đội ngũ tại Kennedy đã xác lập một quy trình làm việc tích hợp – tiêu chuẩn vẫn đang được áp dụng cho các sứ mệnh trạm vũ trụ quốc tế hiện đại.

Ảnh minh họa do AI tạo, không phải ảnh tư liệu.

Nguồn: The 1990s: International Flair and Understanding the Solar System