VietTechiesHIỂU CÔNG NGHỆ. MỞ GÓC NHÌN.
☰ Chuyên mục

Jon Postel và cuốn sổ bộ trung tâm: Người đặt nền móng cho hệ thống định số Internet

09/10/2026 · VietTechies · Biên tập

Cuốn sổ bộ bằng đồng mở rộng tỏa ánh sáng hổ phách trên mặt bàn gỗ chàm, phía sau là mạng lưới đường chỉ đồng xanh lam phát sáng trên nền xanh chàm đậm.
Ảnh minh họa do AI tạo.

Từ một văn phòng tại Viện Khoa học Thông tin thuộc Đại học Nam California, nhà khoa học máy tính Jon Postel đã dành nhiều thập kỷ duy trì các danh sách trung tâm giữ cho mạng Internet thời sơ khởi hoạt động gắn kết. Đảm nhiệm vị trí Giám đốc Phân viện Mạng Máy tính theo hợp đồng với Bộ Quốc phòng Mỹ, Postel đồng thời là biên tập viên cho chuỗi tài liệu Request for Comments (RFC). Mạng ARPANET ban đầu do DARPA tài trợ đã dựa vào các ghi chú RFC được đánh số này để ghi lại mọi giao thức kỹ thuật và phương thức vận hành mới xuất hiện.

Sổ bộ quản lý của mạng lưới thời sơ khởi

Từ những ngày đầu mạng lưới đi vào hoạt động cho đến khi qua đời vào năm 1998, Postel đã trực tiếp giám sát việc đánh số giao thức và phân bổ địa chỉ IP. Mọi hệ thống máy tính kết nối với nhau đều cần các tham số số duy nhất để định tuyến dữ liệu chính xác trên hạ tầng dùng chung. Thay vì phụ thuộc vào một cơ quan hành chính quan liêu, mạng lưới sơ khai dựa vào việc lưu trữ hồ sơ tập trung của Postel để theo dõi việc gán địa chỉ và duy trì khả năng tương tác trên phạm vi toàn cầu.

Từ sổ quản lý cá nhân đến hạ tầng toàn cầu

Khi công nghệ nền tảng phát triển từ một mạng lưới quân sự thử nghiệm thành một hệ thống truyền thông rộng lớn hơn, nhiệm vụ quản lý số liệu của Postel cũng mở rộng theo. Vai trò phân bổ giao thức của ông cuối cùng đã phát triển thành việc quản lý các máy chủ gốc của Hệ thống Tên miền (DNS), chính thức mang tên Tổ chức Quản lý Tên miền và Số hiệu Được cấp phát Internet (IANA).

Để phối hợp các tiêu chuẩn kỹ thuật mở cùng với sổ bộ ngày càng mở rộng này, chính phủ Mỹ đã thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Kỹ thuật Internet (IETF) vào năm 1986. Đến cuối năm đó, IETF đã mở cửa cho bất kỳ ai muốn đóng góp chuyên môn đều có thể tham gia. Khung làm việc mở này đã thúc đẩy sự mở rộng nhanh chóng; đến cuối năm 1989, mạng lưới kết nối liên thông đã phát triển lên hơn 160.000 máy chủ trải dài trên chín quốc gia.

Phân quyền và thể chế hóa

Sự phát triển bùng nổ của các hệ thống máy chủ khiến việc một cá nhân tự quản lý địa chỉ không còn khả thi về lâu dài. Để phân chia công việc quản lý, việc phân bổ địa chỉ IP dần được ủy quyền cho năm tổ chức đăng ký Internet khu vực: ARIN dành cho Bắc Mỹ, RIPE NCC dành cho Châu Âu và Trung Á, APNIC dành cho Châu Á – Thái Bình Dương, LACNIC dành cho Mỹ Latinh và Caribe, và sau này là AfriNIC dành cho Châu Phi.

Sau cái chết của Postel vào năm 1998, mô hình quản trị phi chính thức cần một cơ cấu pháp lý lâu dài. Vào tháng 9 năm 1998, IANA được sáp nhập vào Tập đoàn Internet về Tên miền và Số hiệu Được cấp phát (ICANN), một tổ chức phi lợi nhuận tại bang California được thành lập theo hợp đồng với Bộ Thương mại Mỹ.

Sự phát triển của mô hình quản trị nhiều bên

Trong gần hai thập kỷ sau khi ICANN được thành lập, chính phủ Mỹ vẫn duy trì quyền giám sát tối cao đối với vùng gốc DNS thông qua Cơ quan Quản lý Thông tin và Tiêu chuẩn Truyền thông Quốc gia (NTIA), một cơ quan trực thuộc Bộ Thương mại. Cơ chế giám sát này đã gây ra nhiều tranh luận quốc tế về việc liệu quyền quản lý hành chính đối với hạ tầng cốt lõi toàn cầu có nên phụ thuộc vào hợp đồng của một quốc gia duy nhất hay không.

Sự giám sát theo hợp đồng đó đã kết thúc vào tháng 9 năm 2016, khi NTIA hoàn tất chuyển giao chính thức, chuyển quyền giám sát hành chính các vùng gốc DNS trực tiếp cho IANA. Bước đi này đã khép lại quá trình chuyển đổi từ sự giám sát của chính phủ sang một cơ cấu quản trị nhiều bên toàn cầu và phi tập trung. Ngày nay, sự ổn định kỹ thuật của Internet toàn cầu vẫn dựa trên các tiêu chuẩn mở và khung tổ chức đăng ký vốn trưởng thành từ cuốn sổ bộ ban đầu của Postel.

Ảnh minh họa do AI tạo, không phải ảnh tư liệu.

Nguồn: Internet governance