VietTechiesHIỂU CÔNG NGHỆ. MỞ GÓC NHÌN.
☰ Chuyên mục

Giữa Seattle và Cairo: Tương thích thực tế đã định hình Windows 95 như thế nào

07/10/2026 · VietTechies · Biên tập

Hình minh họa thùng máy tính để bàn cổ điển màu đồng cách điệu đặt cạnh cơ cấu chìa khóa cơ khí bằng thép mài bóng dưới ánh sáng xanh dịu.
Ảnh minh họa do AI tạo.

Vào tháng 7 năm 1992, gần 5.000 lập trình viên phần mềm đã hội tụ tại Hội nghị Lập trình viên Chuyên nghiệp Windows NT đầu tiên của Microsoft ở San Francisco. Những người tham dự nhận được các bản truy cập sớm của Windows NT—một hệ điều hành 32-bit xây dựng mới hoàn toàn, tách rời khỏi nền tảng MS-DOS cũ kỹ. Cũng tại sự kiện này, Microsoft lặng lẽ giới thiệu một dự án song song mang mã hiệu Chicago. Lấy tên gọi đại diện cho sự dung hòa địa lý giữa Seattle (biểu tượng cho trạng thái hiện tại) và Cairo (tầm nhìn tương lai của Windows NT), Chicago phản ánh một con đường trung dung đầy thực tế, nhằm cân bằng khả năng 32-bit hiện đại với tính tương thích rộng rãi cho phần cứng và phần mềm hiện có.

Ảnh tư liệu: Chris Hecker
Ảnh tư liệu: Chris Hecker. Ảnh: Official GDC. Wikimedia Commons · CC BY 2.0. Đã đổi kích thước và định dạng WebP; không chỉnh sửa hình ảnh.

Hai con đường khác biệt tại Hội nghị Lập trình viên 1992

Khi Microsoft chính thức phát hành Windows NT vào mùa hè năm 1993, sự kiện này diễn ra tương đối lặng lẽ trên báo chí tiêu dùng. Được thiết kế từ đầu cho các máy trạm cao cấp và máy chủ mạng, Windows NT sở hữu kiến trúc 32-bit thuần túy, kiên quyết loại bỏ tính tương thích ngược với các phần mềm 16-bit đời cũ. Tuy nhiên, ban lãnh đạo Microsoft nhận ra rằng phần cứng máy trạm hiệu năng cao chỉ chiếm một phân khúc nhỏ trên thị trường máy tính cá nhân. Trong khi những người trung thành với thuần túy kỹ thuật ưa chuộng thiết kế sạch sẽ của NT, người dùng phổ thông lại cần phần mềm có thể chạy trên các máy tính để bàn thương mại sẵn có mà không phải bỏ đi kho phần mềm hiện tại của họ.

Yêu cầu tương thích và sự thống trị của Windows 3

Tính đến mùa hè năm 1993, Windows 3.x đã thống trị mảng máy tính để bàn với 30 triệu bản bán ra trong ba năm và tiếp tục đạt tốc độ tiêu thụ 1,5 triệu bản mỗi tháng. Mức độ chấp nhận thị trường khổng lồ này phụ thuộc rất lớn vào khả năng tương thích ngược với MS-DOS, giúp các khách hàng doanh nghiệp tiếp tục vận hành những ứng dụng cũ song song với phần mềm đồ họa mới. Tuy nhiên, dù làm chủ thị trường phần mềm văn phòng, Windows 3 lại gặp khó khăn trong việc thu hút các nhà phát triển game PC chuyên nghiệp. Những đánh đổi về mặt kiến trúc để đạt độ bao phủ thị trường rộng rãi trên máy tính để bàn đã tạo ra các rào cản hiệu năng nghiêm trọng đối với đồ họa thời gian thực.

Ảnh tư liệu: John Carmack
Ảnh tư liệu: John Carmack. Ảnh: Official GDC. Wikimedia Commons · CC BY 2.0. Đã đổi kích thước và định dạng WebP; không chỉnh sửa hình ảnh.

Nút thắt 16-bit trong mảng game PC chuyên nghiệp

Trở ngại chính đối với các nhà phát triển game là việc quản lý bộ nhớ và băng thông đồ họa. Windows 3 dựa trên kiến trúc phân đoạn 16-bit, giới hạn việc phân bổ bộ nhớ ứng dụng trong các khối riêng biệt không quá 64 kilobyte. Ngược lại, các nhà phát triển game MS-DOS dùng bộ mở rộng DOS 32-bit để vượt qua giới hạn bộ nhớ và ghi trực tiếp vào phần cứng đồ họa. Windows 3 buộc mọi lời gọi đồ họa phải đi qua các thư viện dựng hình trung gian chậm chạp nhằm duy trì khả năng đa nhiệm của hệ thống. Đối với các studio làm game hành động, những lớp trừu tượng này gây ra tình trạng nghẽn tốc độ nghiêm trọng, buộc các trò chơi hiệu năng cao phải gắn chặt vào cơ chế thực thi trực tiếp trên phần cứng của MS-DOS.

WinDOOM và bản thử nghiệm khái niệm trong một cuối tuần

Để giải quyết nút thắt này, lập trình viên Chris Hecker của Microsoft đã phát triển thư viện dựng hình đồ họa WinG vào đầu năm 1994, nhằm giúp các ứng dụng Windows bỏ qua các lớp hiển thị nặng nề để ghi trực tiếp vào bộ đệm màn hình tốc độ cao. Tìm kiếm một bản thử nghiệm khái niệm có tiếng vang lớn, Hecker đã liên hệ với John Carmack, nhà đồng sáng lập id Software, để xin mã nguồn của trò chơi DOOM. Dưới thỏa thuận bảo mật, Hecker nhận mã nguồn và chuyển mã DOOM sang Windows chỉ trong một cuối tuần. Theo các tài liệu thời đó, Hecker đã trình diễn WinDOOM chạy ở tốc độ tối đa tại Hội nghị Nhà phát triển Game Máy tính vào tháng 4 năm 1994. Microsoft chính thức phát hành WinG dưới dạng bản bổ sung cho Windows 3 vào tháng 9 năm 1994, chứng minh rằng phiên bản Windows người dùng cuối hoàn toàn có thể gánh vác các ứng dụng thời gian thực đòi hỏi khắt khe.

Dự án Chicago cuối cùng ra mắt vào tháng 8 năm 1995 dưới tên gọi Windows 95, củng cố chuẩn mực máy tính để bàn 32-bit trong khi vẫn duy trì tính tương thích ngược cho hàng triệu người dùng. Bằng cách ưu tiên khả năng tiếp cận phần cứng rộng rãi cùng các công cụ phát triển thực tế như WinG thay vì theo đuổi sự thuần túy về kiến trúc, Microsoft đã đạt được sự thống trị thị trường áp đảo, thiết lập nền tảng máy tính cá nhân hợp nhất định hình toàn bộ ngành máy tính cá nhân trong thập kỷ tiếp theo.

Ảnh đầu bài: minh họa do AI tạo, không phải ảnh tư liệu.

Nguồn: Doing Windows, Part 10: Chicago A Quick Tour of Windows 95